Ý kiến thăm dò

Bạn quan tâm đến chuyên mục nào trên trang?

Truy cập

Hôm nay:
822
Hôm qua:
2267
Tuần này:
3089
Tháng này:
16365
Tất cả:
493102

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020

Ngày 16/03/2015 16:05:51

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2010 - 2015) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 trong điều kiện chính trị - xã hội ổn định, nhiều chủ trương, cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước được ban hành

KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2011 - 2015

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2010 - 2015) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 trong điều kiện chính trị - xã hội ổn định, nhiều chủ trương, cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước được ban hành; những năm cuối thời kỳ kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kìm chế, lãi suất ngân hàng giảm, song cũng gặp không ít những khó khăn, đầu thời kỳ kinh tế trong nước phục hồi chậm, lạm phát tăng cao, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp và khó lường, một số nhà máy khai khoáng phải ngừng hoạt động do không tìm kiếm được thị trường tiêu thụ đã tác động bất lợi đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện. Trước những khó khăn, thách thức, nhờ được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và hỗ trợ của tỉnh cùng sự nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong huyện, tình hình kinh tế - xã hội của huyện vẫn giữ vững ổn định, tốc độ tăng trưởng khá, các chỉ tiêu cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, chất lượng, hiệu quả, kinh tế từng bước được nâng lên; thu ngân sách tăng khá; cơ sở hạ tầng KT-XH được cải thiện rõ rệt; các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách xã hội đạt kết quả khá; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực sau:

1. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; năng lực sản xuất và quy mô nền kinh tế ngày càng tăng

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011 - 2015 (theo giá 94) đạt 12,4%, tuy không đạt mục tiêu kế hoạch (15,5%) nhưng cao hơn giai đoạn trước (12,3%) và là mức tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn. GDP năm 2015 (theo giá 94) đạt 1.968,5 tỷ đồng, gấp 1,8 lần năm 2010 và đạt mục tiêu đề ra. GRDP bình quân đầu người đạt 1.230 USD gấp 1,9 lần năm 2010, vượt mục tiêu kế hoạch (1.205 USD).

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nội bộ từng ngành kinh tế tiếp tục có bước chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản; tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 35% năm 2010 xuống còn 25,2% năm 2015; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,7% lên 37,7%; ngành dịch vụ tăng từ 33,3% lên 37,1%.

1.1. Sản xuất nông, lâm, thủy sản

Sản xuất nông, lâm, thủy sản từng bước phát triển theo theo hướng nâng cao giá trị, chất lượng trên một đơn vị sản phẩm; tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2011 - 2015) đạt 4,4%. Năng suất của hầu hết cây trồng chính đều tăng, sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước; vùng lúa thâm canh, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao tiếp tục được mở rộng; tổng sản lượng lương thực hàng năm luôn đạt trên 130 nghìn tấn, vượt mục tiêu kế hoạch. Đẩy mạnh công tác đổi điền, dồn thửa và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ giới hóa vào sản xuất; đã xây dựng các mô hình cánh đồng mẫu lớn với diện tích 100 ha. Diện tích vùng nguyên liệu mía phát triển ổn định, đã chuyển một số diện tích đất trồng mía có độ dốc lớn sang trồng cây lâm nghiệp.

Lâm nghiệp phát triển toàn diện cả về bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới; trong 5 năm, trồng mới 694 ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 đạt 14,6%, vượt mục tiêu đề ra (14%). Công tác phòng chống cháy rừng được quan tâm chỉ đạo, hạn chế số vụ cháy rừng xảy ra.

Chăn nuôi phát triển theo mô hình trang trại, gia trại; 5 năm qua, đã xây dựng mới 164 trang trại, gia trại trong đó có 133 trang trại, gia trại chăn nuôi và 31 trang trại, gia trại tổng hợp, nâng tổng số trang trại, gia trại trên địa bàn huyện lên 293 trang trại, gia trại. Chất lượng đàn gia súc được nâng lên: tỷ lệ đàn bò lai tăng từ 25% năm 2010 lên 42,3% năm 2015, đàn lợn nạc tăng từ 17% lên 37,3%; tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 26% năm 2010 lên 31,4% năm 2015. Công tác phòng chống dịch bệnh được đặc biệt quan tâm, không để dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn.

Sản xuất thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng khá; tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 9,7%; sản lượng thủy sản năm 2015 đạt 1.520 tấn, gấp 1,5 lần năm 2010.

1.2. Sản xuất công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân hàng năm đạt 15,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 (theo giá so sánh 1994) đạt 1.067,5 tỷ đồng, gấp 2,2 lần năm 2010. Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng nhanh như: hàng may mặc, đá khai thác, gỗ dân dụng, ván ép, bao bì, gạch; một số cơ sở sản xuất mới đã hoàn thành đầu tư đưa vào hoạt động, góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của huyện, như: may Đồng Lợi, may Dân Quyền, giày Hồng Uy (Thị trấn và xã Thọ Dân)... Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn được quan tâm phát triển; đã khôi phục một số nghề truyền thống và phát triển một số nghề mới như: mộc dân dụng, cơ khí, thêu ren, sản xuất hương xuất khẩu..., góp phần tạo việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn. Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2015 đạt 867 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần năm 2010.

1.3. Dịch vụ có bước phát triển nhanh cả về quy mô và loại hình, chất lượng ngày càng được nâng lên; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 14,6%; giá trị sản xuất dịch vụ năm 2015 đạt 1.435,6 tỷ đồng, gấp 2 lần năm 2010. Thương mại phát triển nhanh, đa dạng; một số chợ truyền thống được cải tạo, nâng cấp; Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn gắn với Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" và chủ trương "người Thanh Hóa ưu tiên dùng hàng Thanh Hóa" được đẩy mạnh thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức và xây dựng thói quen tiêu dùng hàng Việt trong nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 1.305 tỷ đồng, gấp 2,3 lần năm 2010. Tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân hàng năm tăng 89,3%, năm 2015 đạt 9,2 triệu USD, gấp 24,3 lần năm 2010.

Dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân; vận tải tăng 13,2%/năm về hàng hóa và 20%/năm về lượt khách; doanh thu vận tải năm 2015 đạt 262 tỷ đồng, gấp 1,98 lần năm 2010. Dịch vụ thông tin và truyền thông phát triển về số lượng, đa dạng về loại hình, cải thiện về chất lượng. Dịch vụ tài chính, ngân hàng phát triển theo hướng đa dạng, thuận tiện; trên địa bàn hiện có 2 chi nhánh ngân hàng, 9 quỹ tín dụng nhân dân và 2 phòng giao dịch; tổng huy động vốn hàng năm tăng 17%; tổng dư nợ tín dụng năm 2015 đạt trên 1.754 tỷ đồng, gấp 2,7 lần năm 2010.

1.4. Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 đạt 3.602 tỷ đồng, vượt 50,3% so với dự toán huyện giao, thu năm sau cao hơn năm trước; trong đó: Thu ngân sách trên địa bàn đạt 451 tỷ đồng, vượt 43,6% so với dự toán huyện giao và tăng 96% so với dự toán tỉnh giao. Chi ngân sách đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực; tổng chi ngân sách trong 5 năm đạt 3.522 tỷ đồng.

1.5. Công tác phát triển doanh nghiệp được quan tâm khuyến khích, tạo điều kiện phát triển gắn với việc đẩy mạnh thực hiện cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn: 5 năm qua, thành lập mới 51 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập trên địa bàn lên 195 doanh nghiệp, tăng 35,4% so với năm 2010, trong đó có 169 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 87% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập; đến nay có 8,3 doanh nghiệp đang hoạt động/vạn dân, tăng 1,9 doanh nghiệp so với năm 2010. Kinh tế hợp tác phát triển mang lại hiệu quả bước đầu tích cực; toàn huyện hiện có 48 hợp tác xã, trong đó số hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chiếm 72,9%; trong số hợp tác xã đang hoạt động, hợp tác xã hoạt động khá, tốt chiếm 34,8%; thu nhập bình quân một thành viên hợp tác xã đạt 14,7 triệu đồng/năm.

Đồng thời với khuyến khích phát triển doanh nghiệp, huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 02-NQ/TU của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn; công tác vận động, xúc tiến đầu tư được đổi mới: huyện đã chủ động lập quy hoạch, tổ chức vận động, giới thiệu trực tiếp với các doanh nghiệp có tiềm lực, có nhu cầu đầu tư và đạt kết quả tích cực: 5 năm qua, đã thu hút 12 dự án đầu tư trực tiếp (có 4 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký 1.560 tỷ đồng và trên 9 triệu USD, trong đó có một số dự án đầu tư tương đối lớn như: Nhà máy chế biến ferocrom các bon cao với tổng mức đầu tư 350 tỷ đồng; Trang trại chăn nuôi bò sữa Vân Sơn 280 tỷ đồng; Nhà máy giầy Hồng Uy xã Thọ Dân và Thị trấn 2,38 triệu USD; may Dân Quyền 2,15 triệu USD, may Ivory Thọ Vực 5 triệu USD...

Nhờ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả khá; nguồn vốn của nhiều chương trình, dự án được lồng ghép, mang lại hiệu quả đầu tư cao hơn; tổng vốn huy động trong 5 năm đạt 4.823 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra (mục tiêu là 3.500 tỷ đồng); công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng có nhiều chuyển biến, tiến độ và chất lượng công trình nhìn chung được đảm bảo. Trong nhiệm kỳ, nhiều công trình, dự án đã hoàn thành đầu tư đưa vào sử dụng, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm sản phẩm mới, cải thiện kết cấu hạ tầng trên địa bàn.

1.6. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường được tăng cường; đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới; tập trung chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của huyện; công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng được thực hiện theo kế hoạch; tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến hết năm 2015 đạt 75% (theo bản đồ địa chính mới). Đã tập trung chỉ đạo từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các bãi chứa rác thải, cụm công nghiệp, các nhà máy và khu vực nông thôn. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sử dụng đất, hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản được quan tâm chỉ đạo thực hiện.

2. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện

2.1. Hoạt động khoa học công nghệ đã tập trung tiếp nhận, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; trong 5 năm đã triển khai thực hiện 4 nhiệm vụ khoa học công nghệ và 63 mô hình sản xuất mới; nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao được đư­a vào sản xuất; một số kỹ thuật cao được ứng dụng thành công trong khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện; một số doanh nghiệp đã chủ động, mạnh dạn đổi mới công nghệ và thiết bị, nâng cao hiệu quả sản xuất.

2.2. Hoạt động văn hoá, thông tin đã tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh và của huyện. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa, lịch sử được quan tâm; Khu di tích lịch sử Đền Nưa - Núi Nưa - Am Tiên được công nhận là di tích cấp quốc gia đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan. Phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh; đến hết năm 2015 có 13 xã được công nhận đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và 441 làng, bản, cơ quan được công nhận đạt chuẩn văn hóa, nâng tỷ lệ làng, bản, cơ quan đạt chuẩn văn hóa lên 81,2%, tăng 12,1% so với năm 2010; tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 86,8%, vượt mục tiêu đề ra (80%), tăng 10,8% so với năm 2010.

2.3. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển; tỷ lệ người dân tập luyện thể thao thường xuyên tăng từ 32% năm 2010 lên 36% năm 2015; các khu Trung tâm Văn hóa - Thể thao của huyện và các xã từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng, thúc đẩy phong trào phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhiều vận động viên thể thao thành tích cao là con em huyện nhà đã giành được huy chương tại các giải đấu quốc gia và đóng góp tích cực vào thành tích chung của thể thao tỉnh nhà.

2.4. Giáo dục và đào tạo có chuyển biến tiến bộ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS được giữ vững; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đúng kế hoạch; triển khai thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở các cấp học, bậc học; hoàn thành chuyển đổi 35 trường mầm non và 2 trường THPT bán công sang công lập. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo giục mũi nhọn có chuyển biến rõ nét, Đội tuyển thi học sinh giỏi THCS của huyện 3 năm liên tục được xếp trong tốp 7 của tỉnh, đội tuyển THPT có trường xếp trong tốp 10 của tỉnh. Chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn các cấp học đạt 100%, trên chuẩn đạt 78%; việc sắp xếp, điều động, luân chuyển giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục được thực hiện công khai, dân chủ, đúng quy định. Tỷ lệ phòng học kiên cố đến năm 2015 đạt 60%; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 50,4% (59/117 trường), vượt mục tiêu đề ra (45%). Các trung tâm học tập cộng đồng hoạt động tích cực, thu hút đông đảo người dân tham gia; công tác xã hội hóa giáo dục và phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được quan tâm.

2.5. Chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế được nâng lên; nhiều kỹ thuật cao được ứng dụng thành công tại Bệnh viện Đa khoa huyện; mạng lưới y tế cơ sở được tăng cường, 23 trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ và 377/384 thôn, bản có cán bộ y tế. Công tác y tế dự phòng và vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Hầu hết các chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình đều đạt và vượt mục tiêu đề ra, trong đó: tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm đạt 0,6%, tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế đạt 57,1% (theo tiêu chí mới), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15% và tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2015 đạt 61,54%, tăng 18,5% so với năm 2010.

2.6. Trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 11.775 lao động, vượt mục tiêu đề ra (10.000 lao động), trong đó có 1.441 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đạt kết quả bước đầu; trong 5 năm, đào tạo 13.200 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 37,5% năm 2010 lên 52,5% năm 2015, vượt mục tiêu đề ra (40%). Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực; tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông lâm thủy sản giảm từ 60,5% năm 2010 xuống 45,3% năm 2015, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 18,1% lên 29,3%, ngành dịch vụ tăng từ 21,4% lên 25,4%. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công chức xã được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng: 100% cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, trong đó 87% có trình độ cao đẳng trở lên và 96% cán bộ, công chức xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trong đó 42% có trình độ cao đẳng trở lên, 53% có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; tuyển dụng 131 sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại các xã, thị trấn.

Thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 còn 6,5% (theo chuẩn nghèo cũ), vượt mục tiêu đề ra (dưới 8%). Các chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng; huy động được các doanh nghiệp và đông đảo nhân dân tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn.

3. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; hoạt động tư pháp được tăng cường

Lực lượng vũ trang được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đã triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, sức chiến đấu được nâng lên, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu được duy trì; công tác tuyển quân, huấn luyện, diễn tập khu vực phòng thủ, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, hậu cần, kỹ thuật cho các đối tượng hàng năm đều hoàn thành kế hoạch. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội và phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ.

An ninh chính trị, an ninh nội bộ, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo được bảo đảm; trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Lực lượng công an đã triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Công tác điều tra, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường; đã tổ chức nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội, không để các băng nhóm tội phạm có tổ chức, xã hội đen hoạt động. Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ được tập trung chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả; đến hết năm 2015 toàn huyện có 69,7% số xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự.

Công tác tư pháp được tăng cường, hoạt động của các cơ quan tư pháp đảm bảo đúng pháp luật; nhiều vụ án được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, có tác dụng phòng ngừa, giáo dục cao. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được quan tâm thực hiện, hiệu quả được nâng lên, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật của người dân. Công tác thanh tra được thực hiện theo kế hoạch; thanh tra phòng, chống tham nhũng được tăng cường. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định; nhiều vụ việc phức tạp được phát hiện, xử lý kịp thời ngay từ cơ sở, hạn chế đơn thư vượt cấp và khiếu kiện đông người.

4. Đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với phát triển đô thị:

4.1. Chương trình đầu tư kết cấu hạ tầng: Trong 5 năm, nhiều dự án đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư; đã hoàn thành cứng hóa 34 km đường huyện, tỷ lệ cứng hóa đạt 65,3%, 96,6 km đường xã, tỷ lệ cứng hóa đạt 51,8% , bê tông hóa 427,4 km đường thôn, tỷ lệ cứng hóa 88,6%; kiên cố hoá 292 km kênh mương, giao thông nội đồng, tỷ lệ KCH đạt 48,4%; tu bổ, nâng cấp 19 hồ đập; xây dựng 60 trạm biến áp và 89 km đường dây hạ thế; xây mới nâng cấp, cải tạo được 249 phòng học và 96 phòng điều trị, chức năng của trạm y tế xã; xây mới cải tạo 21 trung tâm VH xã, 60 nhà văn hóa thôn, bản; đưa vào sử dụng 8 công sở xã.

4.2. Chương trình xây dựng nông thôn mới: được triển khai thực hiện sâu rộng với nhiều cách làm linh hoạt, bước đi phù hợp, được nhân dân đồng tình ủng hộ; bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. Đến hết năm 2015 toàn huyện có 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới bằng 14,3% số xã; bình quân các xã còn lại đạt 12,7 tiêu chí.

4.3. Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với phát triển đô thị được thực hiện có kết quả; trong 5 năm, đã thu hút được 11 dự án công nghiệp, trong đó có 5 dự án may mặc và sản xuất giầy; 2 dự án chế biến ferocrom. Công tác phát triển đô thị được tập trung chỉ đạo, một số quy hoạch đô thị đã được phê duyệt: Sim - Hợp thành, Đà - Thọ Dân, Gốm - Đồng Tiến; Đô thị mới Sao Mai xã Thọ Dân và Xuân Thịnh; đang điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng, mở rộng Thị trấn; triển khai đầu tư Khu đô thị mới Sao Mai xã Thọ Dân và Xuân Thịnh. Đô thị Nưa đã được công nhận đô thị loại V cho toàn xã. Đến năm 2015, tỷ lệ đô thị hóa trên địa bàn huyện đạt 9,13%.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, yếu kém:

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong giai đoạn 2011 - 2015 kinh tế - xã hội của huyện cũng còn những hạn chế, yếu kém, đó là:

1.1. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự vững chắc, chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện; như sức cạnh tranh của của các doanh nghiệp còn yếu; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Tốc độ tăng trưởng GDP tuy đạt khá (12,4%) nhưng không đạt mục tiêu kế hoạch (15,5%), GDP bình quân đầu người còn thấp so với bình quân của tỉnh (1.230/1.520 USD).

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn chậm, sản phẩm trong nông nghiệp chế biến tại địa phương còn ít; sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún; giá trị sản phẩm không cao, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Phát triển trong ngành chăn nuôi quy mô không lớn; chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương; chưa xây dựng được thương hiệu sản phẩm trên thị trường; thiếu sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ; thu nhập của người nông dân chưa được cải thiện nhiều.

Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN đã có bước phát triển, nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ, trang thiết bị, công nghệ còn lạc hậu. Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp. Cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp chưa thật sự đồng bộ, gắn kết. Một số làng nghề truyền thống chưa được phát huy có hiệu quả.

Tỷ lệ doanh nghiệp so với dân số còn thấp, đến năm 2015 mới đạt 8,3 doanh nghiệp/vạn dân (bình quân của tỉnh là 20,9) ; hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô rất nhỏ, năng lực cạnh trạnh thấp, phạm vi hoạt động chủ yếu trên địa bàn huyện.

1.2. Nguồn vốn đầu tư phát triển vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy dã được quan tâm đầu tư nhưng còn thiếu và yếu, chưa thật sự đồng bộ. Đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, nợ đọng XDCB còn lớn nhất là ở cấp xã.

1.3. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản tuy đã được tăng cường nhưng tình trạng khai thác đất đồi trái phép vẫn còn xảy ra, gây bức xúc trong nhân dân; ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để. Tiến độ cấp giấy CNQSD đất còn chậm.

1.4. Chất lư­ợng giáo dục - đào tạo tuy đã chuyển biến tích cực nhưng vẫn ch­ưa đáp ứng yêu cầu; cơ sở vật chất của một số trường còn thiếu; công tác xã hội hóa giáo dục ch­ưa được phát huy hiệu quả; Chất lượng nguồn nhân lực lao động qua đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu. Tình trạng quá tải ở Bệnh viện còn diễn ra, nợ đọng bảo hiểm chậm được giải quyết, tỷ lệ người dân tham gia BHYT còn thấp. Tình trạng đình công, nghỉ việc tập thể của công nhân trong các doanh nghiệp vẫn còn diễn ra. Chất lượng xây dựng làng văn hóa còn thấp, việc thực hiện các qui định về nếp sống văn hóa, văn minh đặc biệt trong việc cưới, việc tang, lễ hội chưa thực hiện nghiêm túc.

1.5. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp; mô hình tự quản về ANTT ở cơ sở chưa phát huy được hiệu quả; hoạt động của lực lượng công an xã, ban chỉ đạo an ninh trật tự một số nơi chưa thực sự chủ động và hiệu quả chưa cao.

2. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan như: do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đầu thời kỳ, xuất phát điểm của kinh tế huyện nhà thấp, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu kém, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn huyện. Song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:

Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, trong đó có cả một số cán bộ lãnh đạo từ huyện đến cơ sở còn chậm đổi mới, thiếu năng động, sáng tạo; tư tưởng cầm chừng, trông chờ ở một số địa phương, đơn vị chậm được khắc phục. Trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, một số ngành, địa phương chưa xác định được nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, chưa thực sự sâu sát, quyết liệt. Trách nhiệm của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; sự phối hợp giữa các ngành cấp huyện với cơ sở trong giải quyết công việc có lúc, có việc chưa kịp thời, chưa rõ trách nhiệm. Một bộ phận cán bộ công chức còn yếu về trình độ, năng lực và thiếu tinh thần trách nhiệm còn gây khó khăn phiền hà cho tổ chức và công dân trong quá trình giải quyết công việc.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020

A. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN

I. THUẬN LỢI:

- Giai đoạn 2016 - 2020, dự báo nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế thế giới được phục hồi và phát triển. Kinh tế trong nước được tác động tích cực từ nền kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, lãi suất ngân hàng ổn định, sự tác động tích cực của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế là điều kiện thuận lợi để sản xuất kinh doanh phát triển.

- Trong tỉnh, nền kinh tế có những thuận lợi như: Môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện, kết cấu hạ tầng các khu kinh tế và khu công nghiệp được tập trung đầu tư, nâng cấp tạo điều kiện để thu hút các dự án. Nhiều dự án lớn đang được triển khai đầu tư, đã đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

- Trước tình hình nền kinh tế thế giới, trong nước và của tỉnh có nhiều khả năng được phục hồi, phát triển tích cực hơn so với giai đoạn trước đã tác động không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện; với những lợi thế nhất định như: chính trị - xã hội ổn định, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, nguồn lao động dồi dào, nguồn tài nguyên đất đai được quy hoạch, hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ và hàng không, tài nguyên khoáng sản phong phú, có các khu di tích lịch sử tâm linh; các nhà máy khai thác, chế biến Crôm có khả năng trở lại sản xuất; một số dự án sản xuất giầy da, may mặc có sử dụng lớn nguồn lao động nhiều khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất ..., đây là những yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2016 - 2020.

II. KHÓ KHĂN

- Kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức nhất là trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế, siết chặt đầu tư công; việc gia nhập và ký kết các hiệp định thương mại đặt ra những thách thức mới về khả năng cạnh tranh sản phẩm sản xuất trong nước.

- Kinh tế của huyện vẫn mang tính thuần nông với nền nông nghiệp chưa toàn diện, thiếu sản phẩm hàng hóa khối lượng lớn, chất lượng cao, chưa có khả năng cạnh tranh; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; nguồn lao động chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội trong tình hình mới là những yếu tố ảnh hưởng hạn chế đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

B. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020 là: tranh thủ thời cơ vận hội mới, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, coi phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM là nền tảng; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; quan tâm bảo vệ môi trường, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nâng cao chất lượng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; thực hiện tốt công tác giảm nghèo giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn đạt 15,2% và đến năm 2020 Triệu Sơn trở thành huyện tiên tiến của tỉnh.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) bình quân hàng năm đạt 15,2%; trong đó, năm 2016 tăng trưởng 14,5%; năm 2017 tăng 14,7%; năm 2018 tăng 15,2%; năm 2019 tăng 15,6%; năm 2020 tăng 15,9%.

- Cơ cấu các ngành kinh tế trong giá trị sản xuất:

2016

2017

2018

2019

2020

Nông, lâm, thủy sản

22,7%

21,5%

19,8%

18,3%

16,9%

Công nghiệp - Xây dựng

42,8%

44,2%

46,3%

47,9%

49,7%

Dịch vụ

34,5%

34,3%

33,9%

33,8%

33,4%

- Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 23,5 triệu đồng/người/năm; năm 2017 đạt 27,1 triệu đồng/người/năm; năm 2018 đạt 31,2 triệu đồng/người/năm; năm 2019 đạt 35,6 triệu đồng/người/năm; năm 2020 đạt 42 triệu đồng/người/năm.

- Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm giai đoạn 2016-2020 đạt 124,7 nghìn tấn/năm. Năm 2016 đạt 130,3 nghìn tấn; năm 2017 đạt 124,6 nghìn tấn; năm 2018 đạt 123,6 nghìn tấn; năm 2019 đạt 123,4 nghìn tấn; năm 2020 đạt 121,8 nghìn tấn.

- Giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản: năm 2016 đạt 90 triệu đồng; năm 2017 đạt 98 triệu đồng; năm 2018 đạt 106 triệu đồng; năm 2019 đạt 114 triệu đồng; năm 2020 đạt 124 triệu đồng.

- Tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu năm 2016 đạt 12 triệu USD; năm 2017 đạt 20 triệu USD; năm 2018 đạt 25 triệu USD; năm 2019 đạt 35 triệu USD; năm 2020 đạt 50 triệu USD.

- Tổng huy động vốn đầu tư phát triển 5 năm đạt: 8.000 tỷ đồng; trong đó năm 2016 đạt 1.700 tỷ đồng; năm 2017 đạt 1.500 tỷ đồng; năm 2018 đạt 1.400 tỷ đồng; năm 2019 đạt 1.600 tỷ đồng; năm 2020 đạt 1.800 tỷ đồng.

- Tỷ lệ đô thị hóa năm 2016 đạt 9,13%; năm 2017 đạt 12,4%; năm 2018 đạt 13,8%; năm 2019 đạt 18,2%; năm 2020 đạt 22%.

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2016 đạt 28,6%; năm 2017 đạt 40%; năm 2018 đạt 51,4%; năm 2019 đạt 60%; năm 2020 đạt 70% trở lên.

- Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm so với dự toán tỉnh giao từ 15% trở lên.

- Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa năm 2016 đạt 82,9%; năm 2017 đạt 85,5%; năm 2018 đạt 88%; năm 2019 đạt 90,5%; năm 2020 đạt 92,1%.

2.2. Về văn hóa - xã hội:

- Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm dưới 0,55%.

- Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội năm 2016 là 39,4%; năm 2017 là 36,2%; năm 2018 là 33,7%; năm 2019 là 30,6%; năm 2020 là 28%.

- Trong 5 năm giải quyết việc làm mới cho khoảng 15.000 người; trong đó năm 2016 là 3.500 người; năm 2017 là 3.500 người; năm 2018 là 2.500 người; năm 2019 là 2.500 người; năm 2020 là 3.000 người.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2016 đạt 56,5% (trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt ít nhất 28,3%); năm 2017 đạt 60% (28,8%); năm 2018 đạt 63,2% (29,5%); năm 2019 đạt 66,9% (30,3%); năm 2020 đạt 70% (31,3%).

- Tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế: năm 2016 đạt 65,7%; năm 2017 đạt 71,4%; năm 2018 đạt 77,1%; năm 2019 đạt 82,9%; năm 2020 đạt 94,1%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: năm 2016 đạt 14,5%; năm 2017 đạt 14%; năm 2018 đạt 13,5%; năm 2019 đạt 13%; năm 2020 đạt 11,9%.

- Tỷ lệ nhà ở kiên cố: năm 2016 đạt 60%; năm 2017 đạt 64%; năm 2018 đạt 68%; năm 2019 đạt 72%; năm 2020 đạt 76% trở lên.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm đạt 2,7% (theo chuẩn mới).

- Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia: năm 2016 đạt 55,6%; năm 2017 đạt 60,7%; năm 2018 đạt 65,8%; năm 2019 đạt 70,1%; năm 2020 đạt 74,4%.

- Tỷ lệ xã, thị trấn, cơ quan đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: năm 2017 đạt 5%, năm 2018 đạt 8%, năm 2019 đạt 11%, năm 2020 đạt 15%.

2.3. Về môi trường:

- Tỷ lệ che phủ rừng năm 2016 đạt 14,6%; năm 2017 đạt 14,7%; năm 2017 đạt 14,8%; năm 2019 đạt 14,9%; năm 2020 đạt 15%.

- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh: năm 2016 đạt 90,8%; năm 2017 đạt 91,2%; năm 2018 đạt 91,4%; năm 2019 đạt 92,4%; năm 2020 đạt 95% trở lên.

- Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch: năm 2016 đạt 50%; năm 2017 đạt 60%; năm 2018 đạt 70%; năm 2019 đạt 80%; năm 2020 đạt 95% trở lên.

2.4. Về an ninh trật tự:

- Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự: năm 2016 đạt 70%; năm 2017 đạt 70,2%; năm 2018 đạt 70,5%; năm 2019 đạt 70,8%; đến năm 2020 đạt 71%.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TRONG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM 2016-2020

Các ngành, các cấp, trên cơ sở điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020 tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng quy hoạch phát triển theo ngành lĩnh vực, quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị phù hợp với tình hình mới, sát với thực tế và nhu cầu phát triển, đảm bảo tính thống nhất, liên kết giữa quy hoạch tổng thể với quy hoạch ngành, lĩnh vực; đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, thực hiện việc kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoạch, phát hiện và xử lý kịp thời hoặc đề xuất sửa đổi bổ sung cho phù hợp, nâng cao hiệu quả của quy hoạch.

1. Về kinh tế

1.1. Về Nông, lâm, thủy sản

Phát triển nông, lâm, thủy sản theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, bền vững, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh mô hình sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ giữa kinh tế hộ với doanh nghiệp; phát triển các sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng công nghệ cao; rà soát chuyển đổi diện tích các cây trồng kém hiệu quả sang trồng những loại cây có giá trị kinh tế cao hơn. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản đạt 4,5%/năm; giảm tỷ trọng nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu giá trị sản xuất xuống còn 16,9% vào năm 2020. Phấn đấu giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 đạt 124 triệu đồng trở lên.

Trong giai đoạn từ nay đến 2020, tiếp tục thực hiện dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, ổn định diện tích lúa khoảng 9.500 ha/vụ, phấn đấu chuyển 1.500ha đất lúa sang trồng các loại cây màu khác có hiệu quả hơn. Đưa giá trị sản xuất trên một ha trồng trọt đến năm 2020 đạt 127 triệu đồng trở lên.

Tăng diện tích rừng sản xuất lên 3.300 ha theo quy hoạch. Gắn phát triển trồng rừng nguyên liệu với công nghiệp chế biến; thực hiện quản lý rừng theo tiêu chuẩn quản lý bền vững.

Phát triển các loại hình chăn nuôi trang trại, gia trại theo mô hình công nghiệp, đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ sinh môi trường; đàn lợn 60 nghìn con, đàn gia cầm trên 1 triệu con, đàn trâu 3,5 nghìn con, đàn bò 16 nghìn con (trong đó bò lai chiếm 60%, bò sữa chiếm 9%); phát triển trang trại chăn nuôi bò sữa tại xã Vân Sơn và các xã có điều kiện.

Khai thác tối đa diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản; mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản theo mô hình cá - lúa khoảng 200 ha. Phấn đấu giá trị nuôi thuỷ sản bình quân trên 1 ha đạt từ 88 triệu đồng/năm trở lên.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực trong xã hội, kết hợp lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án của trung ương, của tỉnh để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, phấn đấu đến năm 2020 có 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình phát triển kết cấu hạ tầng gắn với xây dựng NTM; thực hiện chuyển đổi mô hình Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012.

1.2. Về công nghiệp - xây dựng

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân giai đoạn 2016-2020 phấn đấu đạt 19,2%/năm; tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong giá trị sản xuất lên 49,7% vào năm 2020.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực sản xuất hiện có, đầu tư nâng cấp, mở rộng quy mô sản xuất; khuyến khích, cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, kêu gọi các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đầu tư vào địa bàn như: may mặc, giày da, chế biến nông sản để giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Xây dựng mới Nhà máy chế biến gạo công suất 100 ngàn tấn/năm tại cụm CN-TTCN Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền; đưa nhà máy may xuất khẩu Thọ Vực công suất 5 triệu sản phẩm/năm đi vào hoạt động cuối năm 2016; nhà máy may khẩu Vân Sơn công suất 3 - 5 triệu sản phẩm/năm đi vào hoạt động năm 2017; mở rộng Nhà máy giày Hồng Uy tại xã Thọ Dân từ 1,4 ha lên 10 ha, nâng công suất 8 - 10 triệu sản phẩm/năm.

Đầu tư xây dựng hạ tầng mở rộng theo quy hoạch vào phía trong tại cụm CN-TTCN Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền; đầu tư xây dựng mới 1-2 cụm công nghiệp dọc tuyến đường từ Cảng HK Thọ Xuân đi KKT Nghi Sơn, quy mô 50-70 ha/cụm và 01 cụm công nghiệp tại khu đô thị Nưa quy mô 20 ha.

Khôi phục, phát triển các nghề truyền thống, chú trọng những nghề có lợi thế như: sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí nhỏ, mộc dân dụng, sản xuất hương, nấm xuất khẩu...; khuyến khích thành lập các doanh nghiệp, hợp tác xã công nghiệp; tích cực tìm kiếm đối tác khai thác các nguồn vốn, công nghệ để phát triển công nghiệp sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng, tổ chức thực hiện tốt Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn NSNN, bố trí vốn tập trung tránh dàn trãi, ưu tiên nguồn vốn cho các công trình trọng điểm; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, nhất là trong việc đấu thầu các dự án từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ; khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng đổi mới, nâng cấp thiết bị, công nghệ, nâng cao năng lực thực hiện các dự án lớn trên địa bàn huyện và tham gia các dự án trên địa bàn tỉnh; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ các công trình xây dựng. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình phát triển CN-TTCN và dịch vụ gắn với phát triển đô thị.

1.3. Về dịch vụ

Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ, thương mại, các hoạt động thương mại bán lẻ; phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 14,7%/năm; tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đến năm 2020 đạt 50 triệu USD.

Khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị với quy mô vừa và nhỏ tại Thị trấn, đô thị Nưa, Đà - xã Thọ Dân, Sim - xã Hợp Thành, Thiều - xã Dân Lý, Gốm - xã Đồng Tiến. Chuyển đổi mô hình quản lý chợ truyền thống theo mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã.

Thực hiện xã hội hóa, kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực đầu tư xây dựng, phát triển Khu di tích lịch sử Am Tiên tạo điểm nhấn trong phát triển du lịch của huyện; khai thác có hiệu quả các di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn.

Phát triển dịch vụ vận tải; mở rộng thêm một số tuyến vận tải hành khách chất lượng cao, kết hợp với phát triển du lịch và phục vụ nhu cầu của nhân dân.

1.4. Về tài chính, tín dụng

- Phấn đấu thu NSNN tăng 15% trở lên so với dự toán tỉnh giao; tập trung khai thác tốt nguồn thu từ quỹ đất, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển; thực hiện các giải pháp chống thất thu NSNN và thu hồi nợ đọng thuế. Quản lý, sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả, chống thất thoát lãng phí, hạn chế phát sinh công nợ trong đầu tư XDCB.

- Tạo điều kiện cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng mở chi nhánh, văn phòng giao dịch, mở rộng quy mô và mạng lưới hoạt động trên địa bàn, đẩy mạnh huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để mở rộng cho vay phục vụ các chương trình phát triển kinh tế xã hội của huyện; phấn đấu dư nợ tín dụng bình quân tăng 15%/năm trở lên.

2. Về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

2.1. Hạ tầng giao thông

Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh, các cơ chế chính sách và huy động tối đa mọi nguồn lực để đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống đường giao thông trên toàn huyện; phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa 92,1%, trong đó: đường huyện đạt 90,7%; đường xã đạt 70%; đường thôn, bản đạt 100%.

- Đối với các tuyến đường huyện trong giai đoạn phấn đấu hoàn thành đầu tư nâng cấp, mở rộng các tuyến đường: từ Quốc lộ 47C đi xã Nông Trường, Khuyến Nông; từ xã Thọ Bình đi xã Bình Sơn; từ Tỉnh lộ 514 (xã Minh Dân) đi Tỉnh lộ 517 (xã Đồng Lợi); từ Quốc lộ 47 (xã Xuân Thịnh) đi xã Xuân Lộc, Quốc lộ 47C (xã Thọ Vực); từ Quốc lộ 47C (xã Vân Sơn) đi Nhà máy ferocrom Nam Việt.

Lập dự án và kêu gọi đầu tư xây dựng đường: từ Tỉnh lộ 517 đi trung tâm xã và làng nghề đá Đồng Thắng; đường từ xã Hợp Lý đi xã Thọ Tiến, xã Thọ Bình; đường cứu hộ cứu nạn đi qua 4 xã: Thọ Tiến, Hợp Lý, Hợp Tiến, Hợp Thắng.

- Kêu gọi, kết hợp các nguồn vồn để đầu tư nâng cấp, cải tạo: 9 cầu, xóa các cầu yếu, nâng tỷ lệ cầu đạt tiêu chuẩn là 42,7% (47/110 cầu).

- Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng của các dự án đầu tư trên địa bàn huyện, như: dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 47, Quốc lộ 47C và các dự án khác.

2.2. Mạng lưới cấp điện

Nâng cấp cải tạo lưới điện hạ thế cuối nguồn ở các xã; xây dựng mới, thay thế các trạm biến áp cũ tại các xã; phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện ổn định, đạt chất lượng là 100%. Đảm bảo cấp đủ điện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện.

2.3. Cấp nước

Kêu gọi vốn đầu tư xây dựng mới 02 Nhà máy nước tại các xã: Tân Ninh, Đồng Tiến; mở rộng Nhà máy nước hiện có (Minh Dân). Đến năm 2020, tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 95% trở lên; tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch đạt 95% trở lên.

2.4. Công trình xử lý ô nhiễm môi trường:

Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải tại cụm CN-TTCN Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền với công suất khoảng 254 m3/ngày đêm; công trình thu gom, xử lý chất thải cho làng nghề khai thác đá Đồng Thắng; lò đốt để thực hiện dự án xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Thọ Tiến phục vụ cho Thị trấn và xã Thọ Tiến; khuyến khích đưa công nghệ lò đốt để xử lý rác thải sinh hoạt cho cụm xã: Vân Sơn, Thái Hòa, Nông Trường, An Nông, Dân Lực, Minh Sơn tại xã Vân Sơn và cụm xã: Đồng Thắng, Đồng Tiến, Đồng Lợi, Tân Ninh, tại xã Đồng Thắng.

2.5. Hạ tầng thủy lợi

Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh,các cơ chế chính sách và huy động tối đa mọi nguồn lực để đầu tư xây mới, nâng cấp, cải tạo hệ thống hồ đập, trạm bơm; kiên cố hóa hệ thống kênh mương nội đồng đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu trên địa bàn huyện.

Đến năm 2020 đầu tư nâng cấp, cải tạo 08 hồ, đập; đầu tư mới 01 trạm bơm, nâng cấp, cải tạo, làm lại 08 trạm bơm; kiên cố hóa thêm 132 km kênh mương nội đồng, nâng tỷ lệ kiên cố hóa đạt 70,6% (420/594,6 km); cứng hóa 25,5 km đê, nâng tỷ lệ cứng hóa đạt 58% (46/79,2 km). Hoàn thành công trình tiêu thoát lũ Sông Nhơm; nâng cấp, cải tạo đê hữu Sông Hoàng đoạn từ xã Đồng Thắng đi xã Dân Lý.

2.6. Phát triển đô thị

Hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng mở rộng Thị trấn Triệu Sơn; điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị Nưa; từng bước lập đề án công nhận đô thị Đà, Sim, Gốm, Thiều đạt tiêu chuẩn đô thị loại V; đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu đô thị Sao Mai xã Xuân Thịnh và xã Thọ Dân, khu đô thị Sao Mai xã Minh Sơn và Thị trấn Triệu Sơn, đến năm 2020 tỷ lệ đô thị hóa trên địa bàn huyện đạt 22%.

2.7. Hạ tầng văn hóa - xã hội

- Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giáo dục, đào tạo từ mầm non đến THCS, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo phòng học, phòng chức năng, phòng quản trị: 151 phòng tại 25 trường (Mầm non, Tiểu học, THCS); đồng thời phấn đấu xóa cơ bản các phòng bán kiên cố, phòng tạm, phòng nhờ, phòng mượn tại các trường; nâng tỷ lệ trường lớp học kiên cố hóa đến năm 2020 đạt 80,6%.

- Đẩy mạnh xã hội hóa y tế, tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị y tế hiện đại bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế, các trạm y tế xã. Đến năm 2020 đầu tư mới thêm 11 trạm y tế; nâng cấp, cải tạo 01 trạm; mở rộng Bệnh viện đa khoa huyện từ 160 giường hiện nay lên 200.

- Đầu tư hoàn chỉnh Trung tâm văn hóa thể thao huyện theo quy hoạch. Đầu tư mới 23 trung tâm văn hóa thể thao, nâng tỷ lệ trung tâm văn hóa xã đạt chuẩn lên 70%; đầu tư mới 189 nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bản, nâng tỷ lệ nhà văn hóa và khu thể thao thôn bản đạt chuẩn là 85,8 %. Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc khối đoàn thể cấp huyện.

3. Về văn hóa - xã hội

- Đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất gắn với thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế; trước hết là tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân trong tất cả các khâu của sản xuất nông nghiệp (giống, làm đất, gieo trồng, chăm bón, thu hoạch, chế biến, bảo quản). Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan tham mưu từ huyện đến xã; thực hiện công bố công khai các thủ tục hành chính trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân qua cổng thông tin điện tử của huyện. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất gắn với tái cơ cấu nền kinh tế.

- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng mũi nhọn; phấn đấu đến năm 2020 giáo dục huyện Triệu Sơn giữ vững đứng trong tốp 7 huyện dẫn đầu trong tỉnh về chất lượng; duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, đa dạng hóa nội dung, chương trình và hình thức học tập; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và các phong trào khuyến học, khuyến tài. Phấn đấu đến năm 2020 đạt 74,4% số trường đạt chuẩn quốc gia.

- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân của bệnh viện đa khoa và các cơ sở y tế, đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu theo Đề án 1816 về cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới. Tăng cường công tác y tế dự phòng, chủ động phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác tuyên truyền về dân số, kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản, phấn đấu tốc độ tăng dân số hàng năm dưới 0,55%.

- Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở gắn với xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020, có 90% số gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, 90,4% số thôn, làng, cơ quan được công nhận là đơn vị văn hóa, 70% số xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới. Tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa. Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa; thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; thực hiện hương ước, quy ước. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, kịp thời đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình kinh tế - xã hội của huyện đến người dân; thực hiện tốt đề án ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận một cửa từ huyện đến xã; quản lý tốt dịch vụ internet và các dịch vụ văn hóa trên địa bàn. Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng; phấn đấu đến năm 2020 có 45% dân số luyện tập thể thao thường xuyên, 70% số xã có trung tâm văn hóa, thể thao đạt chuẩn.

- Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công; bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 3.000 lao động, đào tạo nghề cho 3.150 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% vào năm 2020. Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, đến năm 2020 có trên 85% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Thực hiện tốt các chương trình giảm nghèo, lồng ghép có hiệu quả nguồn vốn của các chương trình giảm nghèo để đầu tư, hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm 2,7%. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.

4. Tài nguyên môi trường

Quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả theo hướng bền vững các nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện. Tổ chức xây dựng, thẩm định các phương án giải quyết vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện; hoàn thành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện giai đoạn 2016-2020 và triển khai lập quy hoạch sử dụng đất huyện giai đoạn 2020-2030. Thực hiện tốt kế hoạch sử dụng đất hàng năm, tạo quỹ đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất; Giải quyết có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp, làng nghề, các bãi chứa rác thải tại các xã; thực hiện xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực xã hội để thực hiện tốt đề án thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030.

5. Về quốc phòng - an ninh

Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và các loại tội phạm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Kiềm chế tội phạm, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông; đấu tranh, xử lý có hiệu quả với tội phạm tham nhũng, ma tuý và tệ nạn xã hội. Phát động phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng khu dân cư an toàn về an ninh trật tự. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân; tập trung xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, gắn với thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình tự quản về an ninh trật tự ở cơ sở; phấn đấu đến năm 2020 có 71% xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự.

Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, phối hợp chặt chẽ giữa công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử; đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, chống lãng phí; thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo không để xảy ra điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Phần thứ ba

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII và mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch này, các phòng, ban, ngành, UBND các xã, thị trấn và đơn vị có liên quan triển khai xây dựng kế hoạch hàng năm để tổ chức thực hiện, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu đề ra.

2. Giao Văn phòng HĐND và UBND huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch theo dõi, đôn đốc các đơn vị triển khai thực hiện; định kỳ tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện.

KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2011 - 2015

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2010 - 2015) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 trong điều kiện chính trị - xã hội ổn định, nhiều chủ trương, cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước được ban hành; những năm cuối thời kỳ kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kìm chế, lãi suất ngân hàng giảm, song cũng gặp không ít những khó khăn, đầu thời kỳ kinh tế trong nước phục hồi chậm, lạm phát tăng cao, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp và khó lường, một số nhà máy khai khoáng phải ngừng hoạt động do không tìm kiếm được thị trường tiêu thụ đã tác động bất lợi đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện. Trước những khó khăn, thách thức, nhờ được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và hỗ trợ của tỉnh cùng sự nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong huyện, tình hình kinh tế - xã hội của huyện vẫn giữ vững ổn định, tốc độ tăng trưởng khá, các chỉ tiêu cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, chất lượng, hiệu quả, kinh tế từng bước được nâng lên; thu ngân sách tăng khá; cơ sở hạ tầng KT-XH được cải thiện rõ rệt; các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách xã hội đạt kết quả khá; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực sau:

1. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; năng lực sản xuất và quy mô nền kinh tế ngày càng tăng

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011 - 2015 (theo giá 94) đạt 12,4%, tuy không đạt mục tiêu kế hoạch (15,5%) nhưng cao hơn giai đoạn trước (12,3%) và là mức tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn. GDP năm 2015 (theo giá 94) đạt 1.968,5 tỷ đồng, gấp 1,8 lần năm 2010 và đạt mục tiêu đề ra. GRDP bình quân đầu người đạt 1.230 USD gấp 1,9 lần năm 2010, vượt mục tiêu kế hoạch (1.205 USD).

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nội bộ từng ngành kinh tế tiếp tục có bước chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản; tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 35% năm 2010 xuống còn 25,2% năm 2015; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,7% lên 37,7%; ngành dịch vụ tăng từ 33,3% lên 37,1%.

1.1. Sản xuất nông, lâm, thủy sản

Sản xuất nông, lâm, thủy sản từng bước phát triển theo theo hướng nâng cao giá trị, chất lượng trên một đơn vị sản phẩm; tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2011 - 2015) đạt 4,4%. Năng suất của hầu hết cây trồng chính đều tăng, sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước; vùng lúa thâm canh, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao tiếp tục được mở rộng; tổng sản lượng lương thực hàng năm luôn đạt trên 130 nghìn tấn, vượt mục tiêu kế hoạch. Đẩy mạnh công tác đổi điền, dồn thửa và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ giới hóa vào sản xuất; đã xây dựng các mô hình cánh đồng mẫu lớn với diện tích 100 ha. Diện tích vùng nguyên liệu mía phát triển ổn định, đã chuyển một số diện tích đất trồng mía có độ dốc lớn sang trồng cây lâm nghiệp.

Lâm nghiệp phát triển toàn diện cả về bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới; trong 5 năm, trồng mới 694 ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 đạt 14,6%, vượt mục tiêu đề ra (14%). Công tác phòng chống cháy rừng được quan tâm chỉ đạo, hạn chế số vụ cháy rừng xảy ra.

Chăn nuôi phát triển theo mô hình trang trại, gia trại; 5 năm qua, đã xây dựng mới 164 trang trại, gia trại trong đó có 133 trang trại, gia trại chăn nuôi và 31 trang trại, gia trại tổng hợp, nâng tổng số trang trại, gia trại trên địa bàn huyện lên 293 trang trại, gia trại. Chất lượng đàn gia súc được nâng lên: tỷ lệ đàn bò lai tăng từ 25% năm 2010 lên 42,3% năm 2015, đàn lợn nạc tăng từ 17% lên 37,3%; tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 26% năm 2010 lên 31,4% năm 2015. Công tác phòng chống dịch bệnh được đặc biệt quan tâm, không để dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn.

Sản xuất thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng khá; tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 9,7%; sản lượng thủy sản năm 2015 đạt 1.520 tấn, gấp 1,5 lần năm 2010.

1.2. Sản xuất công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân hàng năm đạt 15,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 (theo giá so sánh 1994) đạt 1.067,5 tỷ đồng, gấp 2,2 lần năm 2010. Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng nhanh như: hàng may mặc, đá khai thác, gỗ dân dụng, ván ép, bao bì, gạch; một số cơ sở sản xuất mới đã hoàn thành đầu tư đưa vào hoạt động, góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của huyện, như: may Đồng Lợi, may Dân Quyền, giày Hồng Uy (Thị trấn và xã Thọ Dân)... Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn được quan tâm phát triển; đã khôi phục một số nghề truyền thống và phát triển một số nghề mới như: mộc dân dụng, cơ khí, thêu ren, sản xuất hương xuất khẩu..., góp phần tạo việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn. Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2015 đạt 867 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần năm 2010.

1.3. Dịch vụ có bước phát triển nhanh cả về quy mô và loại hình, chất lượng ngày càng được nâng lên; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 14,6%; giá trị sản xuất dịch vụ năm 2015 đạt 1.435,6 tỷ đồng, gấp 2 lần năm 2010. Thương mại phát triển nhanh, đa dạng; một số chợ truyền thống được cải tạo, nâng cấp; Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn gắn với Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" và chủ trương "người Thanh Hóa ưu tiên dùng hàng Thanh Hóa" được đẩy mạnh thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức và xây dựng thói quen tiêu dùng hàng Việt trong nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 1.305 tỷ đồng, gấp 2,3 lần năm 2010. Tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân hàng năm tăng 89,3%, năm 2015 đạt 9,2 triệu USD, gấp 24,3 lần năm 2010.

Dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân; vận tải tăng 13,2%/năm về hàng hóa và 20%/năm về lượt khách; doanh thu vận tải năm 2015 đạt 262 tỷ đồng, gấp 1,98 lần năm 2010. Dịch vụ thông tin và truyền thông phát triển về số lượng, đa dạng về loại hình, cải thiện về chất lượng. Dịch vụ tài chính, ngân hàng phát triển theo hướng đa dạng, thuận tiện; trên địa bàn hiện có 2 chi nhánh ngân hàng, 9 quỹ tín dụng nhân dân và 2 phòng giao dịch; tổng huy động vốn hàng năm tăng 17%; tổng dư nợ tín dụng năm 2015 đạt trên 1.754 tỷ đồng, gấp 2,7 lần năm 2010.

1.4. Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 đạt 3.602 tỷ đồng, vượt 50,3% so với dự toán huyện giao, thu năm sau cao hơn năm trước; trong đó: Thu ngân sách trên địa bàn đạt 451 tỷ đồng, vượt 43,6% so với dự toán huyện giao và tăng 96% so với dự toán tỉnh giao. Chi ngân sách đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực; tổng chi ngân sách trong 5 năm đạt 3.522 tỷ đồng.

1.5. Công tác phát triển doanh nghiệp được quan tâm khuyến khích, tạo điều kiện phát triển gắn với việc đẩy mạnh thực hiện cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn: 5 năm qua, thành lập mới 51 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập trên địa bàn lên 195 doanh nghiệp, tăng 35,4% so với năm 2010, trong đó có 169 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 87% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập; đến nay có 8,3 doanh nghiệp đang hoạt động/vạn dân, tăng 1,9 doanh nghiệp so với năm 2010. Kinh tế hợp tác phát triển mang lại hiệu quả bước đầu tích cực; toàn huyện hiện có 48 hợp tác xã, trong đó số hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chiếm 72,9%; trong số hợp tác xã đang hoạt động, hợp tác xã hoạt động khá, tốt chiếm 34,8%; thu nhập bình quân một thành viên hợp tác xã đạt 14,7 triệu đồng/năm.

Đồng thời với khuyến khích phát triển doanh nghiệp, huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 02-NQ/TU của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn; công tác vận động, xúc tiến đầu tư được đổi mới: huyện đã chủ động lập quy hoạch, tổ chức vận động, giới thiệu trực tiếp với các doanh nghiệp có tiềm lực, có nhu cầu đầu tư và đạt kết quả tích cực: 5 năm qua, đã thu hút 12 dự án đầu tư trực tiếp (có 4 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký 1.560 tỷ đồng và trên 9 triệu USD, trong đó có một số dự án đầu tư tương đối lớn như: Nhà máy chế biến ferocrom các bon cao với tổng mức đầu tư 350 tỷ đồng; Trang trại chăn nuôi bò sữa Vân Sơn 280 tỷ đồng; Nhà máy giầy Hồng Uy xã Thọ Dân và Thị trấn 2,38 triệu USD; may Dân Quyền 2,15 triệu USD, may Ivory Thọ Vực 5 triệu USD...

Nhờ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả khá; nguồn vốn của nhiều chương trình, dự án được lồng ghép, mang lại hiệu quả đầu tư cao hơn; tổng vốn huy động trong 5 năm đạt 4.823 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra (mục tiêu là 3.500 tỷ đồng); công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng có nhiều chuyển biến, tiến độ và chất lượng công trình nhìn chung được đảm bảo. Trong nhiệm kỳ, nhiều công trình, dự án đã hoàn thành đầu tư đưa vào sử dụng, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm sản phẩm mới, cải thiện kết cấu hạ tầng trên địa bàn.

1.6. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường được tăng cường; đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới; tập trung chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của huyện; công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng được thực hiện theo kế hoạch; tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến hết năm 2015 đạt 75% (theo bản đồ địa chính mới). Đã tập trung chỉ đạo từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các bãi chứa rác thải, cụm công nghiệp, các nhà máy và khu vực nông thôn. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sử dụng đất, hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản được quan tâm chỉ đạo thực hiện.

2. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện

2.1. Hoạt động khoa học công nghệ đã tập trung tiếp nhận, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; trong 5 năm đã triển khai thực hiện 4 nhiệm vụ khoa học công nghệ và 63 mô hình sản xuất mới; nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao được đư­a vào sản xuất; một số kỹ thuật cao được ứng dụng thành công trong khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện; một số doanh nghiệp đã chủ động, mạnh dạn đổi mới công nghệ và thiết bị, nâng cao hiệu quả sản xuất.

2.2. Hoạt động văn hoá, thông tin đã tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh và của huyện. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa, lịch sử được quan tâm; Khu di tích lịch sử Đền Nưa - Núi Nưa - Am Tiên được công nhận là di tích cấp quốc gia đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan. Phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh; đến hết năm 2015 có 13 xã được công nhận đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và 441 làng, bản, cơ quan được công nhận đạt chuẩn văn hóa, nâng tỷ lệ làng, bản, cơ quan đạt chuẩn văn hóa lên 81,2%, tăng 12,1% so với năm 2010; tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 86,8%, vượt mục tiêu đề ra (80%), tăng 10,8% so với năm 2010.

2.3. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển; tỷ lệ người dân tập luyện thể thao thường xuyên tăng từ 32% năm 2010 lên 36% năm 2015; các khu Trung tâm Văn hóa - Thể thao của huyện và các xã từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng, thúc đẩy phong trào phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhiều vận động viên thể thao thành tích cao là con em huyện nhà đã giành được huy chương tại các giải đấu quốc gia và đóng góp tích cực vào thành tích chung của thể thao tỉnh nhà.

2.4. Giáo dục và đào tạo có chuyển biến tiến bộ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS được giữ vững; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đúng kế hoạch; triển khai thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở các cấp học, bậc học; hoàn thành chuyển đổi 35 trường mầm non và 2 trường THPT bán công sang công lập. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo giục mũi nhọn có chuyển biến rõ nét, Đội tuyển thi học sinh giỏi THCS của huyện 3 năm liên tục được xếp trong tốp 7 của tỉnh, đội tuyển THPT có trường xếp trong tốp 10 của tỉnh. Chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn các cấp học đạt 100%, trên chuẩn đạt 78%; việc sắp xếp, điều động, luân chuyển giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục được thực hiện công khai, dân chủ, đúng quy định. Tỷ lệ phòng học kiên cố đến năm 2015 đạt 60%; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 50,4% (59/117 trường), vượt mục tiêu đề ra (45%). Các trung tâm học tập cộng đồng hoạt động tích cực, thu hút đông đảo người dân tham gia; công tác xã hội hóa giáo dục và phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được quan tâm.

2.5. Chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế được nâng lên; nhiều kỹ thuật cao được ứng dụng thành công tại Bệnh viện Đa khoa huyện; mạng lưới y tế cơ sở được tăng cường, 23 trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ và 377/384 thôn, bản có cán bộ y tế. Công tác y tế dự phòng và vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Hầu hết các chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình đều đạt và vượt mục tiêu đề ra, trong đó: tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm đạt 0,6%, tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế đạt 57,1% (theo tiêu chí mới), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15% và tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2015 đạt 61,54%, tăng 18,5% so với năm 2010.

2.6. Trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 11.775 lao động, vượt mục tiêu đề ra (10.000 lao động), trong đó có 1.441 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đạt kết quả bước đầu; trong 5 năm, đào tạo 13.200 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 37,5% năm 2010 lên 52,5% năm 2015, vượt mục tiêu đề ra (40%). Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực; tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông lâm thủy sản giảm từ 60,5% năm 2010 xuống 45,3% năm 2015, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 18,1% lên 29,3%, ngành dịch vụ tăng từ 21,4% lên 25,4%. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công chức xã được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng: 100% cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, trong đó 87% có trình độ cao đẳng trở lên và 96% cán bộ, công chức xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trong đó 42% có trình độ cao đẳng trở lên, 53% có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; tuyển dụng 131 sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại các xã, thị trấn.

Thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 còn 6,5% (theo chuẩn nghèo cũ), vượt mục tiêu đề ra (dưới 8%). Các chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng; huy động được các doanh nghiệp và đông đảo nhân dân tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn.

3. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; hoạt động tư pháp được tăng cường

Lực lượng vũ trang được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đã triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, sức chiến đấu được nâng lên, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu được duy trì; công tác tuyển quân, huấn luyện, diễn tập khu vực phòng thủ, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, hậu cần, kỹ thuật cho các đối tượng hàng năm đều hoàn thành kế hoạch. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội và phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ.

An ninh chính trị, an ninh nội bộ, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo được bảo đảm; trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Lực lượng công an đã triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Công tác điều tra, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường; đã tổ chức nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội, không để các băng nhóm tội phạm có tổ chức, xã hội đen hoạt động. Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ được tập trung chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả; đến hết năm 2015 toàn huyện có 69,7% số xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự.

Công tác tư pháp được tăng cường, hoạt động của các cơ quan tư pháp đảm bảo đúng pháp luật; nhiều vụ án được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, có tác dụng phòng ngừa, giáo dục cao. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được quan tâm thực hiện, hiệu quả được nâng lên, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật của người dân. Công tác thanh tra được thực hiện theo kế hoạch; thanh tra phòng, chống tham nhũng được tăng cường. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định; nhiều vụ việc phức tạp được phát hiện, xử lý kịp thời ngay từ cơ sở, hạn chế đơn thư vượt cấp và khiếu kiện đông người.

4. Đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với phát triển đô thị:

4.1. Chương trình đầu tư kết cấu hạ tầng: Trong 5 năm, nhiều dự án đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư; đã hoàn thành cứng hóa 34 km đường huyện, tỷ lệ cứng hóa đạt 65,3%, 96,6 km đường xã, tỷ lệ cứng hóa đạt 51,8% , bê tông hóa 427,4 km đường thôn, tỷ lệ cứng hóa 88,6%; kiên cố hoá 292 km kênh mương, giao thông nội đồng, tỷ lệ KCH đạt 48,4%; tu bổ, nâng cấp 19 hồ đập; xây dựng 60 trạm biến áp và 89 km đường dây hạ thế; xây mới nâng cấp, cải tạo được 249 phòng học và 96 phòng điều trị, chức năng của trạm y tế xã; xây mới cải tạo 21 trung tâm VH xã, 60 nhà văn hóa thôn, bản; đưa vào sử dụng 8 công sở xã.

4.2. Chương trình xây dựng nông thôn mới: được triển khai thực hiện sâu rộng với nhiều cách làm linh hoạt, bước đi phù hợp, được nhân dân đồng tình ủng hộ; bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. Đến hết năm 2015 toàn huyện có 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới bằng 14,3% số xã; bình quân các xã còn lại đạt 12,7 tiêu chí.

4.3. Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với phát triển đô thị được thực hiện có kết quả; trong 5 năm, đã thu hút được 11 dự án công nghiệp, trong đó có 5 dự án may mặc và sản xuất giầy; 2 dự án chế biến ferocrom. Công tác phát triển đô thị được tập trung chỉ đạo, một số quy hoạch đô thị đã được phê duyệt: Sim - Hợp thành, Đà - Thọ Dân, Gốm - Đồng Tiến; Đô thị mới Sao Mai xã Thọ Dân và Xuân Thịnh; đang điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng, mở rộng Thị trấn; triển khai đầu tư Khu đô thị mới Sao Mai xã Thọ Dân và Xuân Thịnh. Đô thị Nưa đã được công nhận đô thị loại V cho toàn xã. Đến năm 2015, tỷ lệ đô thị hóa trên địa bàn huyện đạt 9,13%.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, yếu kém:

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong giai đoạn 2011 - 2015 kinh tế - xã hội của huyện cũng còn những hạn chế, yếu kém, đó là:

1.1. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự vững chắc, chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện; như sức cạnh tranh của của các doanh nghiệp còn yếu; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Tốc độ tăng trưởng GDP tuy đạt khá (12,4%) nhưng không đạt mục tiêu kế hoạch (15,5%), GDP bình quân đầu người còn thấp so với bình quân của tỉnh (1.230/1.520 USD).

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn chậm, sản phẩm trong nông nghiệp chế biến tại địa phương còn ít; sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún; giá trị sản phẩm không cao, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Phát triển trong ngành chăn nuôi quy mô không lớn; chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương; chưa xây dựng được thương hiệu sản phẩm trên thị trường; thiếu sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ; thu nhập của người nông dân chưa được cải thiện nhiều.

Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN đã có bước phát triển, nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ, trang thiết bị, công nghệ còn lạc hậu. Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp. Cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp chưa thật sự đồng bộ, gắn kết. Một số làng nghề truyền thống chưa được phát huy có hiệu quả.

Tỷ lệ doanh nghiệp so với dân số còn thấp, đến năm 2015 mới đạt 8,3 doanh nghiệp/vạn dân (bình quân của tỉnh là 20,9) ; hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô rất nhỏ, năng lực cạnh trạnh thấp, phạm vi hoạt động chủ yếu trên địa bàn huyện.

1.2. Nguồn vốn đầu tư phát triển vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy dã được quan tâm đầu tư nhưng còn thiếu và yếu, chưa thật sự đồng bộ. Đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, nợ đọng XDCB còn lớn nhất là ở cấp xã.

1.3. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản tuy đã được tăng cường nhưng tình trạng khai thác đất đồi trái phép vẫn còn xảy ra, gây bức xúc trong nhân dân; ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để. Tiến độ cấp giấy CNQSD đất còn chậm.

1.4. Chất lư­ợng giáo dục - đào tạo tuy đã chuyển biến tích cực nhưng vẫn ch­ưa đáp ứng yêu cầu; cơ sở vật chất của một số trường còn thiếu; công tác xã hội hóa giáo dục ch­ưa được phát huy hiệu quả; Chất lượng nguồn nhân lực lao động qua đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu. Tình trạng quá tải ở Bệnh viện còn diễn ra, nợ đọng bảo hiểm chậm được giải quyết, tỷ lệ người dân tham gia BHYT còn thấp. Tình trạng đình công, nghỉ việc tập thể của công nhân trong các doanh nghiệp vẫn còn diễn ra. Chất lượng xây dựng làng văn hóa còn thấp, việc thực hiện các qui định về nếp sống văn hóa, văn minh đặc biệt trong việc cưới, việc tang, lễ hội chưa thực hiện nghiêm túc.

1.5. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp; mô hình tự quản về ANTT ở cơ sở chưa phát huy được hiệu quả; hoạt động của lực lượng công an xã, ban chỉ đạo an ninh trật tự một số nơi chưa thực sự chủ động và hiệu quả chưa cao.

2. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan như: do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đầu thời kỳ, xuất phát điểm của kinh tế huyện nhà thấp, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu kém, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn huyện. Song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:

Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, trong đó có cả một số cán bộ lãnh đạo từ huyện đến cơ sở còn chậm đổi mới, thiếu năng động, sáng tạo; tư tưởng cầm chừng, trông chờ ở một số địa phương, đơn vị chậm được khắc phục. Trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, một số ngành, địa phương chưa xác định được nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, chưa thực sự sâu sát, quyết liệt. Trách nhiệm của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; sự phối hợp giữa các ngành cấp huyện với cơ sở trong giải quyết công việc có lúc, có việc chưa kịp thời, chưa rõ trách nhiệm. Một bộ phận cán bộ công chức còn yếu về trình độ, năng lực và thiếu tinh thần trách nhiệm còn gây khó khăn phiền hà cho tổ chức và công dân trong quá trình giải quyết công việc.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020

A. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN

I. THUẬN LỢI:

- Giai đoạn 2016 - 2020, dự báo nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế thế giới được phục hồi và phát triển. Kinh tế trong nước được tác động tích cực từ nền kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, lãi suất ngân hàng ổn định, sự tác động tích cực của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế là điều kiện thuận lợi để sản xuất kinh doanh phát triển.

- Trong tỉnh, nền kinh tế có những thuận lợi như: Môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện, kết cấu hạ tầng các khu kinh tế và khu công nghiệp được tập trung đầu tư, nâng cấp tạo điều kiện để thu hút các dự án. Nhiều dự án lớn đang được triển khai đầu tư, đã đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

- Trước tình hình nền kinh tế thế giới, trong nước và của tỉnh có nhiều khả năng được phục hồi, phát triển tích cực hơn so với giai đoạn trước đã tác động không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện; với những lợi thế nhất định như: chính trị - xã hội ổn định, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, nguồn lao động dồi dào, nguồn tài nguyên đất đai được quy hoạch, hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ và hàng không, tài nguyên khoáng sản phong phú, có các khu di tích lịch sử tâm linh; các nhà máy khai thác, chế biến Crôm có khả năng trở lại sản xuất; một số dự án sản xuất giầy da, may mặc có sử dụng lớn nguồn lao động nhiều khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất ..., đây là những yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2016 - 2020.

II. KHÓ KHĂN

- Kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức nhất là trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế, siết chặt đầu tư công; việc gia nhập và ký kết các hiệp định thương mại đặt ra những thách thức mới về khả năng cạnh tranh sản phẩm sản xuất trong nước.

- Kinh tế của huyện vẫn mang tính thuần nông với nền nông nghiệp chưa toàn diện, thiếu sản phẩm hàng hóa khối lượng lớn, chất lượng cao, chưa có khả năng cạnh tranh; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; nguồn lao động chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội trong tình hình mới là những yếu tố ảnh hưởng hạn chế đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

B. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020 là: tranh thủ thời cơ vận hội mới, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, coi phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM là nền tảng; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; quan tâm bảo vệ môi trường, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nâng cao chất lượng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; thực hiện tốt công tác giảm nghèo giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn đạt 15,2% và đến năm 2020 Triệu Sơn trở thành huyện tiên tiến của tỉnh.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) bình quân hàng năm đạt 15,2%; trong đó, năm 2016 tăng trưởng 14,5%; năm 2017 tăng 14,7%; năm 2018 tăng 15,2%; năm 2019 tăng 15,6%; năm 2020 tăng 15,9%.

- Cơ cấu các ngành kinh tế trong giá trị sản xuất:

2016

2017

2018

2019

2020

Nông, lâm, thủy sản

22,7%

21,5%

19,8%

18,3%

16,9%

Công nghiệp - Xây dựng

42,8%

44,2%

46,3%

47,9%

49,7%

Dịch vụ

34,5%

34,3%

33,9%

33,8%

33,4%

- Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 23,5 triệu đồng/người/năm; năm 2017 đạt 27,1 triệu đồng/người/năm; năm 2018 đạt 31,2 triệu đồng/người/năm; năm 2019 đạt 35,6 triệu đồng/người/năm; năm 2020 đạt 42 triệu đồng/người/năm.

- Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm giai đoạn 2016-2020 đạt 124,7 nghìn tấn/năm. Năm 2016 đạt 130,3 nghìn tấn; năm 2017 đạt 124,6 nghìn tấn; năm 2018 đạt 123,6 nghìn tấn; năm 2019 đạt 123,4 nghìn tấn; năm 2020 đạt 121,8 nghìn tấn.

- Giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản: năm 2016 đạt 90 triệu đồng; năm 2017 đạt 98 triệu đồng; năm 2018 đạt 106 triệu đồng; năm 2019 đạt 114 triệu đồng; năm 2020 đạt 124 triệu đồng.

- Tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu năm 2016 đạt 12 triệu USD; năm 2017 đạt 20 triệu USD; năm 2018 đạt 25 triệu USD; năm 2019 đạt 35 triệu USD; năm 2020 đạt 50 triệu USD.

- Tổng huy động vốn đầu tư phát triển 5 năm đạt: 8.000 tỷ đồng; trong đó năm 2016 đạt 1.700 tỷ đồng; năm 2017 đạt 1.500 tỷ đồng; năm 2018 đạt 1.400 tỷ đồng; năm 2019 đạt 1.600 tỷ đồng; năm 2020 đạt 1.800 tỷ đồng.

- Tỷ lệ đô thị hóa năm 2016 đạt 9,13%; năm 2017 đạt 12,4%; năm 2018 đạt 13,8%; năm 2019 đạt 18,2%; năm 2020 đạt 22%.

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2016 đạt 28,6%; năm 2017 đạt 40%; năm 2018 đạt 51,4%; năm 2019 đạt 60%; năm 2020 đạt 70% trở lên.

- Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm so với dự toán tỉnh giao từ 15% trở lên.

- Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa năm 2016 đạt 82,9%; năm 2017 đạt 85,5%; năm 2018 đạt 88%; năm 2019 đạt 90,5%; năm 2020 đạt 92,1%.

2.2. Về văn hóa - xã hội:

- Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm dưới 0,55%.

- Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội năm 2016 là 39,4%; năm 2017 là 36,2%; năm 2018 là 33,7%; năm 2019 là 30,6%; năm 2020 là 28%.

- Trong 5 năm giải quyết việc làm mới cho khoảng 15.000 người; trong đó năm 2016 là 3.500 người; năm 2017 là 3.500 người; năm 2018 là 2.500 người; năm 2019 là 2.500 người; năm 2020 là 3.000 người.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2016 đạt 56,5% (trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt ít nhất 28,3%); năm 2017 đạt 60% (28,8%); năm 2018 đạt 63,2% (29,5%); năm 2019 đạt 66,9% (30,3%); năm 2020 đạt 70% (31,3%).

- Tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế: năm 2016 đạt 65,7%; năm 2017 đạt 71,4%; năm 2018 đạt 77,1%; năm 2019 đạt 82,9%; năm 2020 đạt 94,1%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: năm 2016 đạt 14,5%; năm 2017 đạt 14%; năm 2018 đạt 13,5%; năm 2019 đạt 13%; năm 2020 đạt 11,9%.

- Tỷ lệ nhà ở kiên cố: năm 2016 đạt 60%; năm 2017 đạt 64%; năm 2018 đạt 68%; năm 2019 đạt 72%; năm 2020 đạt 76% trở lên.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm đạt 2,7% (theo chuẩn mới).

- Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia: năm 2016 đạt 55,6%; năm 2017 đạt 60,7%; năm 2018 đạt 65,8%; năm 2019 đạt 70,1%; năm 2020 đạt 74,4%.

- Tỷ lệ xã, thị trấn, cơ quan đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: năm 2017 đạt 5%, năm 2018 đạt 8%, năm 2019 đạt 11%, năm 2020 đạt 15%.

2.3. Về môi trường:

- Tỷ lệ che phủ rừng năm 2016 đạt 14,6%; năm 2017 đạt 14,7%; năm 2017 đạt 14,8%; năm 2019 đạt 14,9%; năm 2020 đạt 15%.

- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh: năm 2016 đạt 90,8%; năm 2017 đạt 91,2%; năm 2018 đạt 91,4%; năm 2019 đạt 92,4%; năm 2020 đạt 95% trở lên.

- Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch: năm 2016 đạt 50%; năm 2017 đạt 60%; năm 2018 đạt 70%; năm 2019 đạt 80%; năm 2020 đạt 95% trở lên.

2.4. Về an ninh trật tự:

- Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự: năm 2016 đạt 70%; năm 2017 đạt 70,2%; năm 2018 đạt 70,5%; năm 2019 đạt 70,8%; đến năm 2020 đạt 71%.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TRONG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM 2016-2020

Các ngành, các cấp, trên cơ sở điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020 tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng quy hoạch phát triển theo ngành lĩnh vực, quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị phù hợp với tình hình mới, sát với thực tế và nhu cầu phát triển, đảm bảo tính thống nhất, liên kết giữa quy hoạch tổng thể với quy hoạch ngành, lĩnh vực; đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, thực hiện việc kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoạch, phát hiện và xử lý kịp thời hoặc đề xuất sửa đổi bổ sung cho phù hợp, nâng cao hiệu quả của quy hoạch.

1. Về kinh tế

1.1. Về Nông, lâm, thủy sản

Phát triển nông, lâm, thủy sản theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, bền vững, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh mô hình sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ giữa kinh tế hộ với doanh nghiệp; phát triển các sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng công nghệ cao; rà soát chuyển đổi diện tích các cây trồng kém hiệu quả sang trồng những loại cây có giá trị kinh tế cao hơn. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản đạt 4,5%/năm; giảm tỷ trọng nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu giá trị sản xuất xuống còn 16,9% vào năm 2020. Phấn đấu giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 đạt 124 triệu đồng trở lên.

Trong giai đoạn từ nay đến 2020, tiếp tục thực hiện dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, ổn định diện tích lúa khoảng 9.500 ha/vụ, phấn đấu chuyển 1.500ha đất lúa sang trồng các loại cây màu khác có hiệu quả hơn. Đưa giá trị sản xuất trên một ha trồng trọt đến năm 2020 đạt 127 triệu đồng trở lên.

Tăng diện tích rừng sản xuất lên 3.300 ha theo quy hoạch. Gắn phát triển trồng rừng nguyên liệu với công nghiệp chế biến; thực hiện quản lý rừng theo tiêu chuẩn quản lý bền vững.

Phát triển các loại hình chăn nuôi trang trại, gia trại theo mô hình công nghiệp, đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ sinh môi trường; đàn lợn 60 nghìn con, đàn gia cầm trên 1 triệu con, đàn trâu 3,5 nghìn con, đàn bò 16 nghìn con (trong đó bò lai chiếm 60%, bò sữa chiếm 9%); phát triển trang trại chăn nuôi bò sữa tại xã Vân Sơn và các xã có điều kiện.

Khai thác tối đa diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản; mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản theo mô hình cá - lúa khoảng 200 ha. Phấn đấu giá trị nuôi thuỷ sản bình quân trên 1 ha đạt từ 88 triệu đồng/năm trở lên.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực trong xã hội, kết hợp lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án của trung ương, của tỉnh để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, phấn đấu đến năm 2020 có 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình phát triển kết cấu hạ tầng gắn với xây dựng NTM; thực hiện chuyển đổi mô hình Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012.

1.2. Về công nghiệp - xây dựng

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân giai đoạn 2016-2020 phấn đấu đạt 19,2%/năm; tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong giá trị sản xuất lên 49,7% vào năm 2020.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực sản xuất hiện có, đầu tư nâng cấp, mở rộng quy mô sản xuất; khuyến khích, cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, kêu gọi các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đầu tư vào địa bàn như: may mặc, giày da, chế biến nông sản để giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Xây dựng mới Nhà máy chế biến gạo công suất 100 ngàn tấn/năm tại cụm CN-TTCN Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền; đưa nhà máy may xuất khẩu Thọ Vực công suất 5 triệu sản phẩm/năm đi vào hoạt động cuối năm 2016; nhà máy may khẩu Vân Sơn công suất 3 - 5 triệu sản phẩm/năm đi vào hoạt động năm 2017; mở rộng Nhà máy giày Hồng Uy tại xã Thọ Dân từ 1,4 ha lên 10 ha, nâng công suất 8 - 10 triệu sản phẩm/năm.

Đầu tư xây dựng hạ tầng mở rộng theo quy hoạch vào phía trong tại cụm CN-TTCN Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền; đầu tư xây dựng mới 1-2 cụm công nghiệp dọc tuyến đường từ Cảng HK Thọ Xuân đi KKT Nghi Sơn, quy mô 50-70 ha/cụm và 01 cụm công nghiệp tại khu đô thị Nưa quy mô 20 ha.

Khôi phục, phát triển các nghề truyền thống, chú trọng những nghề có lợi thế như: sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí nhỏ, mộc dân dụng, sản xuất hương, nấm xuất khẩu...; khuyến khích thành lập các doanh nghiệp, hợp tác xã công nghiệp; tích cực tìm kiếm đối tác khai thác các nguồn vốn, công nghệ để phát triển công nghiệp sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng, tổ chức thực hiện tốt Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn NSNN, bố trí vốn tập trung tránh dàn trãi, ưu tiên nguồn vốn cho các công trình trọng điểm; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, nhất là trong việc đấu thầu các dự án từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ; khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng đổi mới, nâng cấp thiết bị, công nghệ, nâng cao năng lực thực hiện các dự án lớn trên địa bàn huyện và tham gia các dự án trên địa bàn tỉnh; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ các công trình xây dựng. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình phát triển CN-TTCN và dịch vụ gắn với phát triển đô thị.

1.3. Về dịch vụ

Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ, thương mại, các hoạt động thương mại bán lẻ; phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 14,7%/năm; tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đến năm 2020 đạt 50 triệu USD.

Khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị với quy mô vừa và nhỏ tại Thị trấn, đô thị Nưa, Đà - xã Thọ Dân, Sim - xã Hợp Thành, Thiều - xã Dân Lý, Gốm - xã Đồng Tiến. Chuyển đổi mô hình quản lý chợ truyền thống theo mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã.

Thực hiện xã hội hóa, kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực đầu tư xây dựng, phát triển Khu di tích lịch sử Am Tiên tạo điểm nhấn trong phát triển du lịch của huyện; khai thác có hiệu quả các di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn.

Phát triển dịch vụ vận tải; mở rộng thêm một số tuyến vận tải hành khách chất lượng cao, kết hợp với phát triển du lịch và phục vụ nhu cầu của nhân dân.

1.4. Về tài chính, tín dụng

- Phấn đấu thu NSNN tăng 15% trở lên so với dự toán tỉnh giao; tập trung khai thác tốt nguồn thu từ quỹ đất, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển; thực hiện các giải pháp chống thất thu NSNN và thu hồi nợ đọng thuế. Quản lý, sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả, chống thất thoát lãng phí, hạn chế phát sinh công nợ trong đầu tư XDCB.

- Tạo điều kiện cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng mở chi nhánh, văn phòng giao dịch, mở rộng quy mô và mạng lưới hoạt động trên địa bàn, đẩy mạnh huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để mở rộng cho vay phục vụ các chương trình phát triển kinh tế xã hội của huyện; phấn đấu dư nợ tín dụng bình quân tăng 15%/năm trở lên.

2. Về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

2.1. Hạ tầng giao thông

Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh, các cơ chế chính sách và huy động tối đa mọi nguồn lực để đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống đường giao thông trên toàn huyện; phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa 92,1%, trong đó: đường huyện đạt 90,7%; đường xã đạt 70%; đường thôn, bản đạt 100%.

- Đối với các tuyến đường huyện trong giai đoạn phấn đấu hoàn thành đầu tư nâng cấp, mở rộng các tuyến đường: từ Quốc lộ 47C đi xã Nông Trường, Khuyến Nông; từ xã Thọ Bình đi xã Bình Sơn; từ Tỉnh lộ 514 (xã Minh Dân) đi Tỉnh lộ 517 (xã Đồng Lợi); từ Quốc lộ 47 (xã Xuân Thịnh) đi xã Xuân Lộc, Quốc lộ 47C (xã Thọ Vực); từ Quốc lộ 47C (xã Vân Sơn) đi Nhà máy ferocrom Nam Việt.

Lập dự án và kêu gọi đầu tư xây dựng đường: từ Tỉnh lộ 517 đi trung tâm xã và làng nghề đá Đồng Thắng; đường từ xã Hợp Lý đi xã Thọ Tiến, xã Thọ Bình; đường cứu hộ cứu nạn đi qua 4 xã: Thọ Tiến, Hợp Lý, Hợp Tiến, Hợp Thắng.

- Kêu gọi, kết hợp các nguồn vồn để đầu tư nâng cấp, cải tạo: 9 cầu, xóa các cầu yếu, nâng tỷ lệ cầu đạt tiêu chuẩn là 42,7% (47/110 cầu).

- Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng của các dự án đầu tư trên địa bàn huyện, như: dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 47, Quốc lộ 47C và các dự án khác.

2.2. Mạng lưới cấp điện

Nâng cấp cải tạo lưới điện hạ thế cuối nguồn ở các xã; xây dựng mới, thay thế các trạm biến áp cũ tại các xã; phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện ổn định, đạt chất lượng là 100%. Đảm bảo cấp đủ điện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện.

2.3. Cấp nước

Kêu gọi vốn đầu tư xây dựng mới 02 Nhà máy nước tại các xã: Tân Ninh, Đồng Tiến; mở rộng Nhà máy nước hiện có (Minh Dân). Đến năm 2020, tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 95% trở lên; tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch đạt 95% trở lên.

2.4. Công trình xử lý ô nhiễm môi trường:

Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải tại cụm CN-TTCN Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền với công suất khoảng 254 m3/ngày đêm; công trình thu gom, xử lý chất thải cho làng nghề khai thác đá Đồng Thắng; lò đốt để thực hiện dự án xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Thọ Tiến phục vụ cho Thị trấn và xã Thọ Tiến; khuyến khích đưa công nghệ lò đốt để xử lý rác thải sinh hoạt cho cụm xã: Vân Sơn, Thái Hòa, Nông Trường, An Nông, Dân Lực, Minh Sơn tại xã Vân Sơn và cụm xã: Đồng Thắng, Đồng Tiến, Đồng Lợi, Tân Ninh, tại xã Đồng Thắng.

2.5. Hạ tầng thủy lợi

Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh,các cơ chế chính sách và huy động tối đa mọi nguồn lực để đầu tư xây mới, nâng cấp, cải tạo hệ thống hồ đập, trạm bơm; kiên cố hóa hệ thống kênh mương nội đồng đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu trên địa bàn huyện.

Đến năm 2020 đầu tư nâng cấp, cải tạo 08 hồ, đập; đầu tư mới 01 trạm bơm, nâng cấp, cải tạo, làm lại 08 trạm bơm; kiên cố hóa thêm 132 km kênh mương nội đồng, nâng tỷ lệ kiên cố hóa đạt 70,6% (420/594,6 km); cứng hóa 25,5 km đê, nâng tỷ lệ cứng hóa đạt 58% (46/79,2 km). Hoàn thành công trình tiêu thoát lũ Sông Nhơm; nâng cấp, cải tạo đê hữu Sông Hoàng đoạn từ xã Đồng Thắng đi xã Dân Lý.

2.6. Phát triển đô thị

Hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng mở rộng Thị trấn Triệu Sơn; điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị Nưa; từng bước lập đề án công nhận đô thị Đà, Sim, Gốm, Thiều đạt tiêu chuẩn đô thị loại V; đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu đô thị Sao Mai xã Xuân Thịnh và xã Thọ Dân, khu đô thị Sao Mai xã Minh Sơn và Thị trấn Triệu Sơn, đến năm 2020 tỷ lệ đô thị hóa trên địa bàn huyện đạt 22%.

2.7. Hạ tầng văn hóa - xã hội

- Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giáo dục, đào tạo từ mầm non đến THCS, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo phòng học, phòng chức năng, phòng quản trị: 151 phòng tại 25 trường (Mầm non, Tiểu học, THCS); đồng thời phấn đấu xóa cơ bản các phòng bán kiên cố, phòng tạm, phòng nhờ, phòng mượn tại các trường; nâng tỷ lệ trường lớp học kiên cố hóa đến năm 2020 đạt 80,6%.

- Đẩy mạnh xã hội hóa y tế, tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị y tế hiện đại bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế, các trạm y tế xã. Đến năm 2020 đầu tư mới thêm 11 trạm y tế; nâng cấp, cải tạo 01 trạm; mở rộng Bệnh viện đa khoa huyện từ 160 giường hiện nay lên 200.

- Đầu tư hoàn chỉnh Trung tâm văn hóa thể thao huyện theo quy hoạch. Đầu tư mới 23 trung tâm văn hóa thể thao, nâng tỷ lệ trung tâm văn hóa xã đạt chuẩn lên 70%; đầu tư mới 189 nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bản, nâng tỷ lệ nhà văn hóa và khu thể thao thôn bản đạt chuẩn là 85,8 %. Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc khối đoàn thể cấp huyện.

3. Về văn hóa - xã hội

- Đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất gắn với thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế; trước hết là tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân trong tất cả các khâu của sản xuất nông nghiệp (giống, làm đất, gieo trồng, chăm bón, thu hoạch, chế biến, bảo quản). Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan tham mưu từ huyện đến xã; thực hiện công bố công khai các thủ tục hành chính trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân qua cổng thông tin điện tử của huyện. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất gắn với tái cơ cấu nền kinh tế.

- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng mũi nhọn; phấn đấu đến năm 2020 giáo dục huyện Triệu Sơn giữ vững đứng trong tốp 7 huyện dẫn đầu trong tỉnh về chất lượng; duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, đa dạng hóa nội dung, chương trình và hình thức học tập; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và các phong trào khuyến học, khuyến tài. Phấn đấu đến năm 2020 đạt 74,4% số trường đạt chuẩn quốc gia.

- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân của bệnh viện đa khoa và các cơ sở y tế, đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu theo Đề án 1816 về cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới. Tăng cường công tác y tế dự phòng, chủ động phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác tuyên truyền về dân số, kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản, phấn đấu tốc độ tăng dân số hàng năm dưới 0,55%.

- Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở gắn với xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020, có 90% số gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, 90,4% số thôn, làng, cơ quan được công nhận là đơn vị văn hóa, 70% số xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới. Tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa. Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa; thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; thực hiện hương ước, quy ước. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, kịp thời đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình kinh tế - xã hội của huyện đến người dân; thực hiện tốt đề án ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận một cửa từ huyện đến xã; quản lý tốt dịch vụ internet và các dịch vụ văn hóa trên địa bàn. Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng; phấn đấu đến năm 2020 có 45% dân số luyện tập thể thao thường xuyên, 70% số xã có trung tâm văn hóa, thể thao đạt chuẩn.

- Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công; bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 3.000 lao động, đào tạo nghề cho 3.150 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% vào năm 2020. Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, đến năm 2020 có trên 85% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Thực hiện tốt các chương trình giảm nghèo, lồng ghép có hiệu quả nguồn vốn của các chương trình giảm nghèo để đầu tư, hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm 2,7%. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.

4. Tài nguyên môi trường

Quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả theo hướng bền vững các nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện. Tổ chức xây dựng, thẩm định các phương án giải quyết vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện; hoàn thành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện giai đoạn 2016-2020 và triển khai lập quy hoạch sử dụng đất huyện giai đoạn 2020-2030. Thực hiện tốt kế hoạch sử dụng đất hàng năm, tạo quỹ đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất; Giải quyết có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp, làng nghề, các bãi chứa rác thải tại các xã; thực hiện xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực xã hội để thực hiện tốt đề án thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030.

5. Về quốc phòng - an ninh

Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và các loại tội phạm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Kiềm chế tội phạm, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông; đấu tranh, xử lý có hiệu quả với tội phạm tham nhũng, ma tuý và tệ nạn xã hội. Phát động phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng khu dân cư an toàn về an ninh trật tự. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân; tập trung xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, gắn với thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình tự quản về an ninh trật tự ở cơ sở; phấn đấu đến năm 2020 có 71% xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự.

Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, phối hợp chặt chẽ giữa công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử; đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, chống lãng phí; thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo không để xảy ra điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Phần thứ ba

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII và mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch này, các phòng, ban, ngành, UBND các xã, thị trấn và đơn vị có liên quan triển khai xây dựng kế hoạch hàng năm để tổ chức thực hiện, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu đề ra.

2. Giao Văn phòng HĐND và UBND huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch theo dõi, đôn đốc các đơn vị triển khai thực hiện; định kỳ tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện.

Dự báo thời tiết Thanh Hóa